Phát biểu của Luật Sư Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam tại Quốc hội về Dự thảo Luật Quản lý Ngoại thương

11h:19, ngày 11/08/2016

Kính thưa: Quốc hội

Sau khi nghiên cứu dự thảo Luật Quản lý Ngoại thương, tôi xin có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, chúng tôi nhất trí với phạm vi điều chỉnh như quy định tại Điều 1 dự thảo Luật, theo đó, chỉ quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động ngoại thương hàng hóa mà không quy định về dịch vụ, vì hoạt động dịch vụ thương mại có liên quan đến ngoại thương như các dịch vụ logistic, giám định, quá cảnh... đã được quy định tại Luật Thương mại 2005 và theo pháp luật về quản lý ngoại thương của nhiều nước trên thế giới thì cũng chỉ quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Thứ hai, Chúng tôi đề nghị xem xét lại quy định về nguyên tắc áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu tại Điều 9 Dự thảo.

Quy định: “Áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu khi hàng hóa thuộc một trong những trường hợp sau:..”

 “1. Liên quan đến quốc phòng, an ninh chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

2. Gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng.

3. Gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, trật tự xã hội.

4. Gây nguy hại đến môi trường, đa dạng sinh học, có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại đe dọa an ninh lương thực, nền sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

...”

Nếu nêu quy định như vậy thì sẽ có hai hệ quả xảy ra:

Một là, sẽ tạo ra nghĩa vụ cho Nhà nước phải cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa khi có một trong các trường hợp từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 9 xảy ra.

Hai là, nếu chỉ quy định chung chung như vậy rất khó để xác định cơ sở hoặc tiêu chí đánh giá “nguy hại nghiêm trọng”, “ảnh hưởng xấu”, “nguy hại đến môi trường”…từ đó sẽ dẫn đến việc cấm xuất hoặc cấm nhập sẽ dễ bị dẫn chiếu bởi các tổ chức, cá nhân sẽ yêu cầu cơ quan nhà nước thực hiện nghĩa vụ này trong khi thực tế chưa cần thiết đến mức phải cấm xuất hoặc cấm nhập. Việc thực hiện nghĩa vụ theo luật có thể khiến Việt Nam trở thành đối tượng bị kiện ra WTO. Cũng cần lưu ý rằng, các biện pháp này, đặc biệt cấm nhập khẩu là biện pháp đi ngược lại với xu thế tự do hóa thương mại và được nhìn nhận trong pháp luật thương mại quốc tế hiện nay như là lựa chọn cuối cùng và cần thiết khi không thể áp dụng biện pháp nào khác để giải quyết vấn đề trong các trường hợp quy định tại các khoản từ 1đến khoản 6 Điều 9.

Vì vậy, đề nghị sửa câu đầu của Điều 9 thành “Các biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu có thể được áp dụng khi hàng hóa thuộc một trong những trường hợp sau:….” Việc thay chữ “áp dung” thành chữ “các” sẽ thể hiện quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này, giữa đoạn đó thêm cụm từ “có thể được áp dụng” thể hiện sự linh hoạt trong việc thực hiện quyền quản lý của nhà nước trong các trường hợp cụ thể: cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu khi nhà nước thấy cần thiết mà không quá cứng nhắc phải áp dụng các biện pháp đó.

Thứ ba, về nguyên tắc áp dụng các biện pháp phòng vệ (Điều 68 Dự thảo)

Khoản 1 Điều 68 quy định nguyên tắc: “Áp dụng trong phạm vi, mức độ cần thiết, hợp lý, có đi có lại và có thời hạn nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.”

Phòng vệ thương mại là biện pháp để hạn chế hoặc khắc phục việc cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu hoặc tình trạng khẩn cấp của ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại do sự gia tăng đột biến của hàng hóa nhập khẩu. Bản chất đó không liên quan gì tới nguyên tắc “có đi có lại”. Phòng vệ thương mại không phải là biện pháp trả đũa khi hàng hóa Việt Nam bị áp dụng phòng vệ thương mại tại nước khác. Do đó, đề nghị bỏ cụm từ “có đi có lại” tại khoản 1 Điều 68.

Ngoài ra, Dự thảo cần bổ sung thêm nguyên tắc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại không gây tổn hại tới lợi ích kinh tế xã hội Việt Nam. Xét cho cùng, biện pháp phòng vệ thương mại cần phải hài hòa giữa việc bảo vệ một ngành sản xuất trong nước với việc không gây thiệt hại cho các bên liên quan khác của Việt Nam bao gồm nhà nhập khẩu và người tiêu dùng. Do đó, đề nghị có thể bổ sung thêm Khoản 6 vào Điều 68 với nội dung như sau:

"6. Việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế - xã hội trong nước.”

Thứ tư, về quy định “Thiệt hại của ngành sản xuất trong nước” (Điều 69 Dự thảo)

Khoản 1 Điều 69 Dự thảo Luật quy định:

1. Ngành sản xuất trong nước:

 a) Ngành sản xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất hàng hóa tương tự trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam hoặc đại diện của họ chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành đó được sản xuất trong nước;

b) Trong trường hợp nhà sản xuất trực tiếp nhập khẩu hàng hóa bị điều tra hoặc có mối liên hệ với các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra thì nhà sản xuất này không được xem là nhà sản xuất trong nước, trừ trường hợp Cơ quan điều tra có kết luận khác;...”

Hiện nay, chỉ có Hiệp định chống phá giá của WTO có quy định về việc có thể loại trừ các nhà sản xuất trong nước mà (i) nhập khẩu hàng hóa bị điều tra hoặc (ii) có mối quan hệ (không phải liên hệ) với nhà xuất khẩu nước ngoài ra khỏi phạm vi xác định ngành sản xuất trong nước. Cách quy định như tại điểm a, b Khoản 1 Điều 69 Dự thảo sẽ có hai hệ quả: (1) Tạo ra thêm nghĩa vụ một cách không cần thiết cho Việt Nam không chỉ trong điều tra chống phá giá mà còn trong điều tra chống trợ cấp và tự vệ; và (2) Làm cho hệ thống phòng vệ thương mại của Việt Nam không được tận dụng một cách hiệu quả vì sẽ cản trở các nhà sản xuất trong nước khởi kiện nếu họ nhập khẩu một lượng nhỏ (có thể 1-2% làm hàng mẫu) hoặc tại thời điểm khởi kiện, họ đã thiệt hại đến mức không thể sản xuất toàn bộ theo cầu thị trường mà phải nhập khẩu một phần để cắt lỗ và duy trì sản xuất. Đồng thời, quy định như vậy cũng đi ngược với thực tiễn điều tra của các quốc gia khác. Hiện nay, việc các nhà sản xuất trong nước đồng thời có hoạt động nhập khẩu chính sản phẩm họ sản xuất hoặc sản phẩm tương tự là điều không có gì mới, đặc biệt là với các công ty đa quốc gia hoặc công ty có nhiều bên liên kết tham gia sản xuất và thương mại. Không thể vì họ có nhập khẩu hoặc bên liên kết của họ có nhập khẩu mà quyền khởi kiện của họ tự động bị tước bỏ. Việc quyền khởi kiện có bị tước bỏ hay không nên tùy theo từng trường hợp và được quyết định theo đánh giá của cơ quan điều tra.

Ngoài ra, việc quy định “trừ trường hợp Cơ quan điều tra có kết luận khác” tại điểm b Khoản 1 Điều 69 lại bổ sung thêm 1 ngoại lệ mà theo đó có thể sẽ dẫn đến cách hiểu là kết luận của cơ quan điều tra còn cao hơn Luật.

Vì vậy, đề nghị sửa lại khoản 1 Điều 69 như sau:

"1. Ngành sản xuất trong nước

a) Ngành sản xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất hàng hóa tương tự trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam hoặc đại diện của họ chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành đó được sản xuất trong nước;

b) Trong trường hợp nhà sản xuất trực tiếp nhập khẩu hàng hóa bị điều tra hoặc có mối quan hệ với các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra thì nhà sản xuất này có thể không được xem là nhà sản xuất trong nước.”

Thêm từ “có thể” vào là đã thể hiện đầy đủ thẩm quyền quản lý của nhà nước.

Thứ năm, về các bên liên quan trong vụ việc điều tra (Điều 76 Khoản 1)

Khoản 1 Điều 76 quy định về các bên liên quan trong vụ việc điều tra bao gồm rất nhiều bên như:

        “a) Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài sản xuất, xuất khẩu hàng hoá bị điều tra;

        b) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá bị điều tra;

        c) Hiệp hội nước ngoài có đa số thành viên là các tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, hàng hoá bị điều tra;

        d) Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu hàng hoá bị điều tra;

        đ) Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại;

        e) Tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hoá tương tự;

        g) Hiệp hội trong nước có đa số thành viên là các tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hoá tương tự;

        h) Tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến quá trình điều tra hoặc có thể giúp ích cho quá trình điều tra.”

Nhưng lại chưa thấy có “tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” là một trong các tổ chức đã được ghi nhận riêng biệt trong các văn bản pháp luật về phòng vệ thương mại hiện hành. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều 76 khoản 1 một điểm (Điểm i) quy định về tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bên liên quan trong vụ việc điều tra, cụ thể như sau:

“i) Các tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Việc bổ sung các tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cần thiết bởi các tổ chức này sẽ góp phần đánh giá tác động của hàng hóa nhập khẩu hay việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với người tiêu dùng và việc bổ sung này cũng đảm bảo tương thích với pháp luật quốc tế. Đối tượng này hiện cũng đang được ghi nhận riêng biệt trong các văn bản pháp luật về phòng vệ thương mại hiện hành.

Trên đây là một số ý kiến về dự thảo Luật Quản lý ngoại thương, xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định./.