Có việc dân sự còn lạ lẫm khi giải quyết
09h:33, ngày 04/20/2016
Thông lệ, người ta thường nghĩ trong tố tụng dân sự chỉ có tranh chấp thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Lối nghĩ đó, đáng tiếc là không chỉ thuộc về công dân, mà còn thuộc về không ít người làm việc tại cơ quan tòa án.
Điển hình là năm 2015, có 8 người dân đề nghị tòa tuyên vô hiệu văn bản công chứng mà họ bị “mắc lừa” khi ký hợp đồng ủy quyền. Họ làm đơn đề nghị tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu theo nội dung đơn quy định tại Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị tòa từ chối giải quyết. Cán bộ tòa án gọi một số người có đơn đến tòa để vận động họ rút đơn và chuyển sang làm đơn khởi kiện, trong khi họ không có tranh chấp về việc này. Một người nghe theo lời cán bộ tòa đã ký rút đơn, nhưng sau đó lại tiếp tục viết đơn đề nghị tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu. Cũng có trường hợp, thẩm phán gửi văn bản (đề ngày 04/9/2015) “yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu” trong thời hạn 15 ngày, nhưng theo dấu bưu điện mãi đến ngày 17/9/2015 họ mới nhận được văn bản này. Ngày 24/9/2015 đương sự này đã gửi đến tòa đơn bổ sung theo yêu cầu của tòa, nêu rõ những vi phạm pháp luật của văn bản công chứng nêu trên, nhưng đã nhiều tháng trôi qua mà họ không nhận được hồi âm từ phía thẩm phán đã nhận đơn của họ.

Hình minh họa (nguồn: Internet)
Cuối cùng, tòa đã yêu cầu đương sự làm lại đơn theo mẫu “Đơn khởi kiện vụ án dân sự” do tòa cung cấp - chứ không phải đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự - thì mới chịu nhận đơn. Song, tòa đã nhận đơn từ ngày 26/11/2015 nhưng đến nay vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Vậy là, quyền dân sự của đương sự đã bị “ngâm” từ tháng 8 năm 2015 đến nay vì chính tòa còn lạ lẫm với giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật, và chưa biết đến khi nào mới được giải quyết.
Theo hồ sơ của 8 đương sự đã gửi đến tòa thì: “Hợp đồng ủy quyền chúng tôi ký tại nhà riêng của tôi, không có mặt công chứng viên. Ông Hà Sĩ Mạnh cho trợ lý (cô Nhung) đưa hợp đồng đến nhà vào buổi tối, ép ký nên vợ chồng tôi chưa được đọc kỹ và chưa hiểu nội dung hợp đồng như thế nào.
Sau đó, họ đưa về làm thủ tục công chứng tại Văn phòng Công chứng Tây Hồ, do Công chứng viên Hoàng Minh Đức ký, vào sổ số 00531.2015; Quyển số 02/TP/CC - SCC/HĐGD. Sau này, khi chúng tôi gọi đòi thì mới nhận được bản hợp đồng ủy quyền, nhưng thấy nội dung bên trong đã hoàn toàn bị thay đổi.
Do đó, việc công chứng này là việc làm sau khi chúng tôi đã ký hợp đồng, tôi không hề biết mặt công chứng viên, không được công chứng viên đọc và giải thích theo quy định của Luật Công chứng”.
Yêu cầu tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu là quyền dân sự trọng yếu
Tiên lượng việc người ta có thể lợi dụng hợp đồng ủy quyền để xâm phạm lợi ích của người ủy quyền nên Bộ luật Dân sự hiện hành đã quy định “nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý” (Điều 588). Hơn thế nữa, luật pháp ghi nhận yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu tại nhiều văn bản pháp luật cơ bản, như Luật Công chứng, Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 52 Luật Công chứng quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị tòa án tuyên văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại khoản 6 Điều 26: yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án; quy định tại mục m khoản 2 Điều 35: yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thuộc thẩm quyền của tòa án quận, huyện nơi văn phòng công chứng có trụ sở; và nội dung đơn yêu cầu được quy định tại khoản 3 Điều 312. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 đã nêu rõ thời hạn giải quyết việc tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu tại Điều 24 của Nghị quyết.
Mặt khác, hợp đồng ủy quyền mà các đương sự đã nộp cho tòa là những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp được quy định là thuộc loại không phải chứng minh theo quy định tại Điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Rõ ràng là, pháp luật đã quy định yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là quyền dân sự trọng yếu, Song qua thực tế, có việc dân sự chưa được quy định đầy đủ, khiến cho tòa án còn lạ lẫm. Phải chăng, đây là việc mới và tòa án cấp có thẩm quyền chưa được hướng dẫn hay tập huấn kỹ lưỡng?
Bộ luật Tố tụng dân sự và đòi hỏi với Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trong đơn yêu cầu tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu của cả 8 đương sự đều nêu rõ sự vi phạm pháp luật của văn bản công chứng này như sau:
“Văn bản công chứng này làm công chứng cả nội dung cam kết trái pháp luật, như ghi “không cần phải hỏi ý kiến bên ủy quyền” là trái với Điều 587 của Bộ luật Dân sự về quyền của bên ủy quyền là “yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền”. Nghiêm trọng hơn, Điều 6 của hợp đồng ủy quyền lại có nội dung: “Hai bên cam kết không đơn phương hủy bỏ hợp đồng này”, hoàn toàn trái quy định tại Điều 588 của Bộ luật Dân sự “bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào”.
Cơ sở pháp lý để tòa tuyên văn bản công chứng vô hiệu trong trường hợp này đã đầy đủ và rõ ràng. Hơn nữa, đây là tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp được pháp luật quy định thuộc loại không phải chứng minh.
Thực tế nêu trên cho thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự cần được tiếp tục nghiên cứu, sủa đổi để loại trừ vướng mắc về giải quyết việc dân sự trong tố tụng như đã nêu trên. Bởi lẽ, trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, một số việc dân sự khác được quy định chi tiết hơn, thành một chương riêng, như thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Chương XXI), thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích (Chương XXIII), thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết (Chương XXIV),… Đó là thực tế đòi hỏi phải sớm hoàn thiện các quy định về tố tụng dân sự để bảo đảm quyền dân sự được thực thi trên thực tiễn tố tụng ở các tòa án,
Đáp ứng đòi hỏi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự mới (luật số 92/2015/QH13) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 đã hoàn thiện hơn khi bổ sung Chương XXIX “Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”.
Tuy nhiên, nếu Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không kịp thời ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành để hạn chế sự lúng túng, lạ lẫm của tòa án địa phương khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu của người dân như nêu trên, thì quyền dân sự trọng yếu vẫn chưa được tôn trọng trong thực tế tố tụng dân sự.
Đó là đòi hỏi thực tế của đời sống dân sự trong giai đoạn hiện nay.
Luật gia Phan Văn Tân (nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam)