Hai lần hủy án do vi phạm tố tụng

18h:07, ngày 10/31/2014

Lần gần đây nhất, vào ngày 09/7/2014 vừa qua, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ kiện dân sự tranh chấp chia thừa kế giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B với bị đơn là ông Nguyễn Phi H (đều trú tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội). Vụ kiện này tưởng chừng đơn giản nhưng lại rất phức tạp. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay kéo dài gần 09 năm với những người tham gia tố tụng khoảng 30 người là những người thân thích, ruột thịt của nguyên đơn và bị đơn. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ kiện có 1 luật gia và 07 luật sư  tham gia. Thời gian, công sức, tiền của mà các đương sự đã phải bỏ ra không phải là ít. Tuy nhiên cho đến nay, vụ kiện vẫn chưa có hồi kết. Một lần nữa Tòa án nhân dân TP. Hà Nội lại tuyên hủy án để giao lại hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.
Khởi kiện xin chia thừa kế theo di chúc
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại các phiên tòa thì vụ kiện được tóm tắt như sau: ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Phi H là anh em cùng cha khác mẹ. Khi sinh ông được 10 ngày thì mẹ ông (cụ Phạm Thị H) mất. Năm 1939, bố ông (cụ Nguyễn Hữu B) lấy cụ Phạm Thị N và sinh được 8 người con, trong đó có ông Nguyễn Phi H. Mặc dù không sinh ra ông B nhưng cụ N vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng ông Nguyễn Văn B như con đẻ.
Cụ Nguyễn Hữu B mất ngày 04/10/1988. Cụ Phạm Thị N mất 15/01/1996.
Khi chết, các cụ để lại khối di sản gồm: 01 nhà ngói ba gian nằm trên diện tích đất 426m2 thuộc thửa số 19 tờ bản đồ số 3 ở xóm 4C Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội (nhà đất này hiện do ông Nguyễn Phi H và vợ là bà Công Thị T quản lý, sử dụng); 01 nhà ngói bốn gian làm vào năm 1979 - 1980 trên diện tích 348m2 đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 3 ở xóm 4C Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội (nhà đất này hiện do ông Nguyễn Anh D (một trong số các người con của cụ N) và vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc M quản lý, sử dụng). Năm 2000, ông D đã phá nhà cấp 4 xây nhà tầng có sử dụng gỗ ngói của nóc nhà cấp 4 cũ để làm nóc nhà tầng như hiện nay.
Về nguồn gốc nhà đất: trước năm 1972 - 1973, hai cụ là chủ sử dụng 2 ngôi nhà ngói năm gian nằm trên hai thửa đất với tổng diện tích khoảng 3000 mở Xóm 1 Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1972 - 1973, Nhà nước thu hồi, giải phóng mặt bằng toàn bộ để xây dựng cầu Thăng Long và đền bù đất ở cho hai cụ diện tích tại thửa 16,19 nêu trên. Khi nhận đền bù xong hai cụ có làm 01 ngôi nhà ba gian lợp ngói trên thửa đất số 19. Năm 1979 - 1980 hai cụ làm thêm nhà bốn gian trên thửa đất số 16.
Quá trình quản lý, sử dụng đất có sự biến động: đối với thửa đất số 19, năm 1994 vợ chồng ông H đã bán 10m2 đất trên có một gian nhà cấp bốn cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ có xác nhận của UBND xã. Năm 1996, vợ chồng ông Đ chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H.
Đôí với thửa đất số 16, năm 1999 vợ chồng ông D chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phạm Văn T 80m2 trên có nhà cấp bốn, có xác nhận của UBND xã. Năm 2001, vợ chồng ông T phá đi xây thành nhà tầng và quầy bán hàng như hiện nay.
Theo nội dung Đơn khởi kiện ngày 16/11/2005 và Đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/5/2008 của nguyên đơn Nguyễn Văn B thì khi hai cụ mất có để lại di chúc chung vợ chồng Giấy ủy quyền sử dụng nhà và đất lập ngày 05/9/1988 có chữ ký của hai cụ và được Ủy ban nhân dân xã Đông Ngạc xác nhận vào bản di chúc này vào ngày 04/10/1989 (01 năm sau ngày cụ B mất).
Theo Giấy ủy quyền sử dụng nhà đất để lại thì ông B (nguyên đơn) là con trai trưởng được chia 150m2 đất và nửa diện tích nhà để làm nơi thờ cúng tổ tiên trên phần diện tích mà vợ chồng ông H quản lý. Do ông H không thực hiện theo di chúc nên ông B khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế.
Do  quá trình vợ chồng ông H sử dụng thì có biến động về đất đai nên để phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện tại tại thửa đất số 19, ông B đề nghị chia cho ông 150m2 đất ở chỗ không có nhà; còn thửa đất số 16 mà vợ chồng D quản lý thì ông không yêu cầu tòa giải quyết.
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn, ông Nguyễn Phi H có quan điểm không chấp nhận với lý do bản di chúc đó là di chúc giả có sau một năm cụ B mất; tài sản mà ông B đòi chia thừa kế là của riêng vợ chồng ông bà. Năm 1972 - 1973 khi Nhà nước thu hồi đất của các cụ có đền bù cho các hộ gia đình có cấp riêng cho hộ ông Nguyễn Phi H diện tích 240m2. Tại Giấy chứng nhận đất thổ cư có xác nhận của Ủy ban hành chính xã Đông Ngạc đã ghi nhận điều này. Gia đình ông bà đã sinh sống ổn định trên mảnh đất đó mấy chục năm nay, không có phát sinh mâu thuẫn với ai. Chỉ đến khi giá đất lên mới phát sinh tranh chấp.
Vợ chồng ông H không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của ông B và đề nghị tòa bác yêu cầu khởi kiện đó. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là con cháu ông H cũng đồng quan điểm với ông H về vấn đề này. Tuy nhiên, họ cũng mong muốn hai bên ông B và ông H  hòa giải với nhau.
Phán quyết của Tòa án các cấp ra sao?
Ngày 30/9/2009, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ kiện này và đã ra Bản án số 25/2009/TLST-DS. Tại bản án này, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B chia thừa kế theo di chúc.
Giấy ủy quyền sử dụng nhà và đất lập ngày 05/9/1988 được xác định là có hiệu lực pháp luật theo đó ông B được chia 150,96 m2 nằm trên diện tích đất mà ông bà H đang quản lý sử dụng. Phần chênh lệch so với kỷ phần được hưởng cộng với tài sản trên đất, ông B có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông H là 18.446.000 đồng.
Lẽ dĩ nhiên vợ chồng ông Nguyễn Phi H không đồng ý, họ đã kháng cáo không chấp nhận án sơ thẩm xác định di chúc của cụ B, cụ N là hợp pháp.
Ngày 09/3/2010, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đã xét xử phúc thẩm vụ án này. Tại Bản án số 33/2010/DSPT, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án số 25/2009/TLST-DS ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm với nhận định bản di chúc (hay còn gọi là Giấy ủy quyền sử dụng nhà và đất lập ngày 05/9/1988) là bản đánh máy, chỉ có chữ ký được viết tay, nhưng không có người làm chứng, dưới phần chữ ký ghi chú “Giấy ủy quyền  này coi như di chúc để lại, cách phân chia đất theo sơ đồ trang bên”, dưới phần sơ đồ phân chia không có ai ký, điểm chỉ, ngày 04/10/1089, sau khi cụ B chết một năm mới có xác nhận của chính quyền, như vậy không phù hợp với quy định của pháp luật.
Mặt khác, chưa đủ căn cứ xác định toàn bộ thửa đất số 19 là di sản của vợ chồng cụ B, cụ N. Cấp sơ thẩm xác định tài sản tranh chấp tại thửa đất số 19 nêu trên thuộc sở hữu của hai cụ B, N và chấp nhận tính hợp pháp của Giấy ủy quyền lập ngày 05/9/1988 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Chính vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm cần thiết phải hủy án để xét xử lại.
Sau hơn một năm rưỡi chờ đợi, ngày 30/9/2013 vụ kiện được đưa ra xét xử sơ thẩm lại từ đầu.
Tại Bản án  số 22/2013/DS-ST, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm lại một lần nữa giữ nguyên quan điểm của mình như đối với bản án trước đây. 
Chỉ có một sự thay đổi nhỏ là phần chênh lệch so với kỷ phần được hưởng cộng với tài sản trên đất, thay vì ông Nguyễn Văn B có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông H là 18.446.000 đồng như bản án sơ thẩm trước đây thì Tòa án tuyên lần này ông phải thanh toán cho vợ chồng ông H số tiền 52.302.000 đồng.
Lại một lần nữa vợ chồng ông Nguyễn Phi H, bà Công Thị T kháng cáo không chấp nhận phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Ông bà cung cấp thêm rằng có hai bản di chúc có nội dung giống nhau, vợ chồng bà có cầm một bản nhưng phần chữ ký các cụ lại không giống nhau.
Ngày 09/7/2014, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm xét kháng cáo của ông H, bà T và là phiên tòa thứ tư đối với các đương sự.
Phiên tòa này căng thẳng hơn các phiên tòa trước. Các bên đương sự đã có những hành động, những câu nói gây hấn với nhau ngay tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải nhắc nhở các bên mới ổn định trật tự.
Điều bất lợi đối với bị đơn, ông H, bà T ở chỗ cả 7 anh chị em ruột của ông H lại có quan điểm đồng tình với phía nguyên đơn, ông B (ông B là anh cùng cha khác mẹ với họ).
Tuy nhiên, không phải vì điều bất lợi đó mà yêu cầu kháng cáo của vợ chồng ông H lại không được xem xét.
Tại phiên tòa, vị luật sư bào chữa của ông Nguyễn Văn B (nguyên đơn) cho rằng bản di chúc được lập ngày 16/5/1987 là hoàn toàn hợp pháp và tất cả các anh chị em biết và đồng ý nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía ông Nguyễn Phi H, bà Công Thị T (bị đơn) đưa ra quan điểm: Giấy ủy quyền sử dụng đất được lập ngày 16/5/1987 mà bên nguyên đơn cho rằng đó là di chúc, là văn bản không có giá trị pháp lý. Nếu là bản di chúc thì phải tuân theo quy định tại thời điểm lập, tức là phải tuân thủ quy định của pháp luật tại Thông tư số 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Đối chiếu với quy định trong thông tư này thì văn bản được coi là di chúc mà nguyên đơn khởi kiện là không có giá trị. Bản di chúc không được người để lại di chúc viết ra, di chúc không được ký từng trang, di chúc đánh máy lại không có người làm chứng, sau khi một trong hai người để lại di chúc chết thì sau đó mới mang di chúc ra ký xác nhận của UBND xã Đông Ngạc... Trên cơ sở đó, luật sư bên bị đơn đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và kết quả thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy quan điểm, lập luận của luật sư của phía bị đơn là có căn cứ, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội một lần nữa ra phán quyết hủy Bản án sơ thẩm số 22/2013/DS-ST ngày 30/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, vụ kiện đang trong quá trình tố tụng để xét xử sơ thẩm lại từ đầu. Trong tương lại, vụ kiện có thể kết thúc theo nhiều hướng khác nhau như rút đơn khởi kiện, hòa giải với nhau hoặc bằng phán quyết của Tòa án. Nhưng dù thế nào thì các bên đương sự cũng như cơ quan tiến hành tố tụng đều phải tuân thủ theo pháp luật, tránh những thiếu xót không đáng có. Có như vậy vụ kiện mới có thể dừng lại được.
Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan
(Đoàn luật sư TP. Hà Nội)
 

tủ bếp gỗ xoan đàogiay bong datu vi hang ngayđầm công sởchân váy công sởnhan cuoichuyen phat nhanh quần áo bảo hộ

Chưa có bình luận