Bài tham luận của Luật sư Nguyễn Huy Thiệp tại Hội thảo Kỹ năng thẩm vấn và tranh tụng của luật sư trong các vụ án hình sự
08h:55, ngày 06/20/2016
KỸ NĂNG THAM GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
Luật sư Nguyễn Huy Thiệp
Ủy viên Hội đồng luật sư toàn quốc
Chủ nhiệm Ủy ban bảo vệ quyền lợi luật sư - Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Thành viên Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội
Trong tố tụng hình sự, giai đoạn Điều tra là giai đoạn đầu tiên để giải quyết một vụ án hình sự. Theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì Luật sư được tham gia vào trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ngay từ khi có một người bị bắt. Đây là một trong những quy định rất mới và rất tiến bộ của Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Quy định này đã tạo điều kiện cho Luật sư tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự từ rất sớm. Trong quá trình tham gia như vậy, Luật sư vừa có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, vừa có thể giám sát các hoạt động điều tra của Điều tra viên, kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai lầm (nếu có) của Điều tra viên và qua đó có những ý kiến, kiến nghị kịp thời để yêu cầu cơ quan Điều tra sửa chữa, khắc phục nó, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, đúng pháp luật.

Luật sư Nguyễn Huy Thiệp
Sự tham gia của Luật sư từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vị trí quan trọng như vậy nên khi tham gia vào giai đoạn này Luật sư cần có những kỹ năng – những cách thức, phương pháp làm việc sao cho vừa bảo đảm đúng các quy định của pháp luật, phù hợp với từng trường hợp cụ thể vừa tạo ra những điều kiện để hoạt động của Luật sư đạt hiệu quả cao nhất.
1. Kỹ năng làm thủ tục để tham gia bào chữa
Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “…3. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…”
Công việc đầu tiên của Luật sư – Người bào chữa là làm các thủ tục để các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho mình. Để có kỹ năng làm thủ tục xin giấy chứng nhận người bào chữa từ phía cơ quan điều tra cần phải phân chia những trường hợp tham gia tố tụng của Luật sư thành những trường hợp khác nhau:
Thứ nhất, một Luật sư tham gia bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ hoặc nhiều bị can;
Thứ hai, một Luật sư tham gia bào chữa cho một người bị tạm giữ hoặc một bị can;
Thứ ba, nhiều Luật sư cùng tham gia bào chữa cho một người bị tạm giữ hoặc một bị can;
Thứ tư, Luật sư tham gia bào chữa cho bị can đang tại ngoại;
Thứ năm, Luật sư tham gia bào chữa cho bị can đang bị tạm giam.
Ở bất kì trường hợp nào việc Luật sư nhanh chóng hoàn tất các thủ tục hành chính tại Văn phòng luật sư là rất cần thiết bởi việc làm này sẽ tạo điều kiện cho Luật sư nhanh chóng tiếp xúc với cơ quan điều tra đề nghị cấp giấy chứng nhận người bào chữa.
Cho đến thời điểm này, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có chung một thông tư liên tịch để giải thích, hướng dẫn cụ thể về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa. Chính vì chưa có thông tư liên tịch trên đây nên việc xem xét cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa ở các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương chưa thống nhất. Có nơi người bào chữa chỉ cần đơn mời Luật sư của bị can, bị cáo (hoặc người thân thích, đại diện của họ) kèm theo giấy giới thiệu của Văn phòng luật sư là được chấp nhận; có nơi thì ngoài Đơn mời Luật sư, giấy giới thiệu của Văn phòng luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng còn yêu cầu thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa luật sư với khách hàng; có nơi thì ngoài các loại giấy tờ trên đây còn yêu cầu thêm thẻ luật sư và chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ tư pháp cấp. Thậm chí, cá biệt có nơi ngoài các giấy tờ trên đây còn yêu cầu Luật sư – Người bào chữa phải cung cấp lý lịch tư pháp để chứng minh Luật sư – người bào chữa chưa có tiền án, tiền sự thì mới cấp Giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa.
Rõ ràng, tình trạng này đã gây không ít khó khăn cho Luật sư khi làm thủ tục tham gia bào chữa. Trong trường hợp này Luật sư không thể chất vấn hay gây căng thẳng với Điều tra viên bởi vì trong thực tế hiện nay chưa có bất cứ một điều luật nào quy định về những giấy tờ, tài liệu mà Luật sư phải cung cấp cho cơ quan điều tra để xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Vì vậy, cách tốt nhất là phải ôn hòa và tự mình phải chuẩn bị các giấy tờ mà cơ quan điều tra yêu cầu như: Đơn mời luật sư của khách hàng hoặc người thân của họ; hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa khách hàng hoặc người thân của họ với Văn phòng luật sư; giấy giới thiệu của Văn phòng luật sư nơi Luật sư đang hành nghề; thẻ luật sư (bản sao công chứng); chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ tư pháp cấp (bản sao công chứng); giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư nơi Luật sư hành nghề (bản sao công chứng), hợp đồng giữa Luật sư và Văn phòng luật sư (nếu là Luật sư hợp đồng)…Để thực hiện được điều này, Luật sư cần kết hợp với nhân viên hành chính của Văn phòng luật sư và đặc biệt là thông báo với Trưởng văn phòng luật sư để chuẩn bị các mẫu hồ sơ và giấy tờ có sẵn để khi cần thiết luật sư có thể sử dụng ngay phục vụ cho việc xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa tại cơ quan điều tra.
Không giống như kiểm sát viên hoặc thẩm phán, điều tra viên không phải lúc nào cũng làm việc tại trụ sở của cơ quan mình mà họ làm việc tại nhiều nơi khác nhau (trụ sở của cơ quan, trại tạm giam, viện kiểm sát, trụ sở của cơ quan, tổ chức khác…). Hơn thế nữa, trong cùng một thời gian, một điều tra viên có thể thụ lý nhiều vụ án khác nhau nên việc gặp gỡ họ là rất khó khăn. Như vậy, trong trường hợp một luật sư tham gia bào chữa cho nhiều bị can khác nhau trong cùng một vụ án thì tốt nhất là luật sư cần chuẩn bị đầy đủ các bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa rồi mới hẹn lịch làm việc với điều tra viên.
Thực tế việc hành nghề luật sư trong thời gian qua đã chứng minh rằng, việc nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa ở cơ quan điều tra mỗi cấp, mỗi địa phương có khác nhau. Có những nơi khi luật sư đến xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa thì bộ phận văn phòng của cơ quan điều tra nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa rồi chuyển cho điều tra viên thụ lý vụ án nhưng có nơi bộ phận văn phòng của cơ quan điều tra không nhận trực tiếp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa mà yêu cầu chuyển qua đường công văn. Trong trường hợp này thì luật sư sẽ chuyển hồ sơ qua đường công văn nhưng nên hỏi bộ phận văn phòng của cơ quan điều tra xem điều tra viên nào là người trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án mà mình tham gia bào chữa và xin số điện thoại của điều tra viên đó để trực tiếp liên lạc và xem họ đã nhận được hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa mà mình đã gửi chưa, qua đó có phương án tiếp theo để thực hiện công việc của mình.
Khoản 4 Điều 56 BLTTHS 2003 đã quy định: “Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do. Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lý do”.
So với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì đây là một quy định rất mới, rất tiến bộ. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động luật sư trong thời gian qua thì thấy quy định trên đây rất hiếm khi được cơ quan điều tra thực hiện (có chăng chỉ viện kiểm sát và tòa án mới cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo đúng thời hạn theo các quy định của Điều luật trên đây). Nguyên nhân của tình trạng này là từ khi luật sư gửi hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa đến khi hồ sơ đó được chyển đến người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa phải mất một thời gian nhất định thường là quá ba ngày và thậm chí là cả ba tháng hay nhiều tháng (khi hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa được gửi đến bộ phận văn phòng của cơ quan điều tra thì bộ phận văn phòng chuyển hồ sơ đó cho điều tra viên trực tiếp giải thụ lý vụ án, điều tra viên khi nhận được bộ hồ sơ này lại phải chuyển lên cho lãnh đạo cơ quan điều tra và lãnh đạo cơ quan điều tra lại phải mất một thời gian nữa để xem xét và quyết định cấp hay không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư). Hơn nữa, trong nhiều truờng hợp, khi cơ quan điều tra chưa muốn cấp giấy chứng nhận nguời bào chữa cho luật sư thì họ sẽ đưa ra nhiều lý do để trì hoãn như điều tra viên trực tiếp thụ lý vụ án hoặc lãnh đạo cơ quan điều tra đang đi công tác xa, chưa có thời gian để vào trại tạm giam hỏi bị can có đồng ý mời luật sư hay không (nếu bị can đang bị tạm giam)… Trong trường hợp này, nếu sau thời hạn ba ngày theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 mà cơ quan điều tra vẫn chưa cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư và cũng không trả lời lý do vì sao không cấp thì để có giấy chứng nhận người bào chữa và tham gia tố tụng, luật sư cần thường xuyên gặp gỡ, liên hệ với điều tra viên trực tiếp điều tra vụ án và thậm chí không nên ngần ngại gửi các văn bản đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thực tế, nếu luật sư không bức xúc thì cũng không tác động tới tiến trình nhanh chóng xem xét, giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng ngược lại nếu tỏ ra quá bức xúc có khi lại gây ức chế thậm chí tạo ra quan hệ không tốt với cơ quan tiến hành tố tụng để cuối cùng công việc vẫn không thực hiện được.
2. Kỹ năng tham gia lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác
Khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: người bào chữa có quyền:
“a. Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác;
b. Xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
c. Đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can”;
Quy định người bào chữa được quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì có thể đặt câu hỏi đối với bị can mặc dù đã được quy định từ khi có Bộ luật tố tụng hình sự 1988 nhưng cho tới thời điểm hiện nay việc thực hiện nó vẫn còn có rất nhiều khó khăn. Điều này do hai nguyên nhân:
Thứ nhất, điều tra viên rất ít khi báo cho luật sư biết kế hoạch hỏi cung người bị tạm giữ, bị can; Thứ hai, ngay bản thân các luật sư cũng không đủ thời gian để có thể tham gia tất cả các buổi hỏi cung khi được điều tra viên thông báo về kế hoạch hỏi cung bởi cùng một lúc luật sư không chỉ tham gia một vụ việc. Vì vậy, luật sư cần phải thường xuyên giữ liên lạc với họ để nắm bắt được kế hoạch hỏi cung người bị tạm giữ bị can của điều tra viên và thậm chí có thể thỏa thuận trước với điều tra viên thời gian hợp lý cho cả hai bên. Cần phân biệt hai trường hợp hỏi cung bị can tại trụ sở cơ quan điều tra: Tại nơi ở, nơi làm việc của người bị tạm giữ, bị can và hỏi cung bị can tại trại tạm giam. Khi đã nắm bắt được thời gian hỏi cung người bị tạm giữ, bị can của điều tra viên thì luật sư cần lập một kế hoạch cụ thể để tham gia vào buổi hỏi cung đó như kiến nghị với điều tra viên cần phải làm rõ những vấn đề gì, chuẩn bị các câu hỏi để hỏi người bị tạm giữ, bị can. Tùy từng vụ án khác nhau mà luật sư chuẩn bị những câu hỏi khác nhau. Thí dụ, trong các vụ án mà người bị tạm giữ, bị can bị bắt quả tang luật sư cần đặt những câu hỏi khác với những câu hỏi mà bị can không bị bắt quả tang; trong những vụ án có đồng phạm luật sư cần đặt câu hỏi để làm rõ vị trí vai trò của người bị tạm giữ, bị can trong số các đồng phạm hoặc những tội phạm có dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm (các tội phạm về ma túy, các tội phạm có chiếm đoạt tài sản …) thì luật sư lại đặt những câu hỏi khác với các vụ án mà dấu hiệu định lượng không có ý nghĩa quyết định đến tội danh và hình phạt. Trong trường hợp điều tra viên đặt những câu hỏi có tính mớm cung hoặc bức cung đối với thân chủ của mình thì luật sư không nên phản ứng gay gắt với điều tra viên bởi làm mất hay hạ thấp uy tín của điều tra viên trước mặt người bị tạm giữ, bị can là điều tối kỵ. Trong trường hợp này luật sư cần khéo léo, tế nhị đề nghị điều tra viên không nên hỏi những câu hỏi đó hoặc luật sư xin phép đặt những câu hỏi cho thân chủ của mình để phản bác lại câu hỏi của điều tra viên.
Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư không những được hỏi cung người bị tạm giữ, bị can mà còn được quyền tham vào các hoạt động điều tra khác như thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, kê biên tài sản, khám chỗ ở, địa điểm, đối chất, nhận dạng, … Khi luật sư nắm được kế hoạch thực hiện các hoạt động điều tra của điều tra viên, luật cần sắp xếp thời gian để tham gia bởi sự có mặt và chứng kiến, giám sát của luật sư trong những hoạt động này không những làm cho cơ quan điều tra, điều tra viên phải thực hiện công việc đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mà còn kịp thời phát hiện ra những sai sót của cơ quan điều tra (nếu có) để có những kiến nghị kịp thời đề nghị cơ quan điều tra, điều tra viên khắc phục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng mình nói riêng và pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung. Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu luật sư nhận thấy cần thiết phải trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc đối chất, khai quật tử thi, … thì luật sư cần có văn bản đề nghị cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động đó và yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp cho mình kết quả giám định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
3. Kỹ năng thu thập các dồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa
Điểm d Khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: người bào chữa có quyền: “thu thập tài liệu , đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác”
Trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu luật sư thấy cần thiết phải thu thấp những tài liệu, chứng cứ để bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can thì tự luật sư có thể đi thu thập và cung cấp cho cơ quan điều tra.
Theo quy định của pháp luật thì những tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án được người bào chữa thu thập được có giá trị như những tài liệu đồ vật, tình tiết do cơ quan điều tra thu thập. Vì vậy, việc luật sư có kế hoạch chủ động “tự điều tra, thu thập chứng cứ là rất cần thiết”. Khi cung cấp những tài liệu, đồ vật, tình tiết này cho cơ quan điều tra thì luật sư có quyền yêu cầu cơ quan điều tra lập biên bản về việc cung cấp tài liệu đó. Những tài liệu, đồ vật này sẽ được coi là chứng cứ trong vụ án nếu nó phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 2003: “Chứng cứ được xác định bằng: a, vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c, kết luận giám định; d, Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác”.
Ngay sau khi thu thập được những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, luật sư cần cung cấp ngay cho cơ quan điều tra bởi trong nhiều trường hợp những tài liệu, đồ vật mà luật sư cung cấp cho cơ quan điều tra có thể làm thay đổi toàn bộ nội dung vụ án (chứng minh người bị tạm giữ, bị can không phạm tội, thay đổi tội danh đối với người bị tạm giữ, bị can) hoặc là căn cứ để cơ quan điều tra có thể ra những quyết định có lợi cho thân chủ của mình như quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang các biện pháp ngăn chặn khác, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án…
4. Kỹ năng phát hiện các sai phạm của điều tra viên và đưa ra yêu cầu đề xuất
Phát hiện ra những ra sai phạm của điều tra viên trong quá trình giải quyết vụ án là điều kiện vô cùng quan trọng để việc giải quyết vụ án được khách quan và đúng với quy định của pháp luật. Do đó, khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư cần trang bị cho mình những kỹ năng để có thể phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án.
Việc phát hiện sai phạm của điều tra viên có thể được luật sư thực hiện ngay khi luật sư gặp gỡ và trao đổi với người bị tạm giữ, bị can. Khi trao đổi với bị can, người bị tạm giữ, luật sư cần hỏi xem họ đã được điều tra viên trao quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can chưa? Đã được điều tra viên giải thích đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can hay chưa? Có bị điều tra viên đặt các câu hỏi mớm cung hay không? Có bị điều tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình hay không khi lấy lời khai, hỏi cung không? Người bị tạm giữ, bị can có được ký vào mỗi trang của biên bản hỏi cung mình hay không? Có ký vào sát dòng cuối cùng của biên bản hay không? Trong nhiều trường hợp, người bị tạm giữ, bị can chỉ ký vào trang cuối cùng của bản cung lại không sát vào dòng cuối cùng của trang nên sau này điều tra viên có thể viết thêm những nội dung bất lợi cho họ vào phần đầu của bản cung hoặc phần trống được tạo ra khi người bị tạm giữ, bị can ký không sát vào dòng cuối cùng.
Đối với người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên, luật sư cần hỏi rõ xem họ có người giám hộ không? Người giám hộ của họ có mặt khi hỏi cung họ và có được ký vào các biên bản hỏi cung đó không bởi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi hỏi cung người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì phải có người giám hộ của họ và người giám hộ này được quyền ký vào các biên bản cung.
Khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, luật sư cần chú ý đến ngày tháng năm của các biên bản xem chúng có trùng lặp hoặc mâu thuẫn nhau về mặt thời gian hay không? Trong nhiều vụ án, trong cùng một thời gian, địa điểm mà một điều tra viên lại có thể hỏi cung nhiều bị can khác nhau, thậm chí tại nhiều địa điểm khác nhau. Điều đó chứng tỏ những bản cung đó là do điều tra viên tự viết bản cung và người bị tạm giữ, bị can phải ký vào. Việc làm này của điều tra viên sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính khách quan của hồ sơ vụ án. Trong khi nghiên cứu hồ sơ, luật sư cũng cần chú ý tới phần tẩy xóa của bản cung. Về nguyên tắc khi tẩy xóa các ký tự trong bản cung thì phải có chữ ký xác nhận của người bị tạm giữ, bị can vào bản cung đó. Nếu bản cung bị tẩy xóa mà không có chữ ký của người bị tạm giữ, bị can thì đó là sự vi phạm thủ tục tố tụng. Trong nhiều trường hợp đây là căn cứ để viện kiểm sát hoặc tòa án yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Ngay sau khi phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên, luật sư cần gặp trực tiếp để trao đổi với điều tra viên (yêu cầu lập biên bản về buổi làm việc này). Trong trường hợp cần thiết, luật sư gửi văn bản đến thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên hoặc viện kiểm sát để thông báo về sai phạm của điều tra viên.
5. Kỹ năng gặp và trao đổi với bị can
Khi gặp và trao đổi với bị can trong giai đoạn điều tra thì công việc đầu tiên và quan trọng nhất của luật sư là giải thích cho họ biết mình có nghĩa vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa nhưng việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ mới là quan trọng và cao nhất qua đó tạo sự tin tưởng cho bị can đối với mình. Khi đã có sự tin tưởng của bị can thì luật sư đề nghị họ trình bày một cách trung thực về toàn bộ những gì mà họ biết về vụ án. Nếu bị can không biết cách trình bày hoặc trình bày một cách không logic thì luật sư cần đặt những câu hỏi gợi mở để họ có thể trình bày được bản chất của vụ án. Trong trường hợp bị can trình bày quanh co, thiếu logic không muốn nói sự thật của vụ án thì luật sư cần khuyên họ nên nói ra sự thật của vụ án thì luật sư mới có năng tư vấn và bào chữa cho họ có hiệu quả. Nếu những vụ án mà bị can là người gây ra thiệt hại và họ đã thừa nhận thiệt hại đó thì luật sư khuyên họ về thời điểm để khắc phục hậu quả để được hưởng những tình tiêt giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự 1999.
6. Kỹ năng kiến nghị, đề xuất với cơ quan điều tra
Ngay sau khi đã nắm được cơ bản về nội dung vụ án, luật sư cần có những kiến nghị, đề xuất với cơ quan điều tra để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Có hai phương thức để luật sư kiến nghị, đề xuất với cơ quan điều tra: Thứ nhất là đề xuất kiến nghị trực tiếp và bằng lời nói. Trong trường hợp này, luật sư cần hẹn lịch gặp điều tra viên tại trụ sở cơ quan điều tra và trong buổi làm việc này, luật sư cần đề nghị điều tra viên lập biên bản về nội dung buổi làm việc; Thứ hai, đề xuất, kiến nghị với cơ quan điều tra bằng văn bản. Với phương thức này, luật sư cần trình bày chính xác và rõ ràng đề xuất, kiến nghị của mình và khi gửi tài liệu đi luật sư cần đề nghị cơ quan điều tra viết giấy biên nhận (nếu chuyển trực tiếp cho cơ quan điều tra) hoặc giữ lại phiếu gửi (nếu chuyển qua đường bưu điện). Dù là đề xuất, kiến nghị với cơ quan điều tra bằng phương thức nào đi chăng nữa thì Luật sư cũng cần đề nghị điều tra viên đưa văn bản đó vào hồ sơ và coi nó như một tài liệu trong hồ sơ vụ án.
Khi luật sư thấy có những căn cứ là điều kiện để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thay đổi tội danh đối với thân chủ của mình thì luật sư cần kịp thời có đơn kiến nghị gửi đến cơ quan điều tra yêu cầu họ thực hiện.
Trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, người bào chữa nhận thấy khách hàng của mình có những điều kiện để có thể được cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn khác không phải là biện pháp tạm giam thì người bào chữa viết đơn đề nghị cơ quan điều tra, viện kiểm sát áp dụng các quy định của pháp luật để cho khách hàng của mình được tại ngoại hoặc hướng dẫn người nhà của bị can viết đơn bảo lãnh cho họ. Trong trường hợp cần thiết, luật sư có thể đứng ra bảo lãnh cho thân chủ của mình.
Nếu sau khi tiếp xúc với hồ sơ vụ án mà Luật sư – người bào chữa nhận thấy việc mở rộng vụ án hình sự sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình thì luật sư cũng cần có đề xuất với cơ quan điều tra mở rộng vụ án.
Từ thực tế hành nghề luật sư trong thời gian qua có thể nhận thấy, người bị tạm giữ, bị can, đặc biệt là những bị can đang bị tạm giam, người nhà của những người này rất mong muốn luật sư tham gia vào từ giai đoạn điều tra, bởi đối với họ, lúc này luật sư – người bào chữa là người duy nhất có thể tư vấn và hướng dẫn họ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Hơn thế nữa, khi tham gia từ giai đoạn điều tra, người bào chữa sẽ giám sát và kịp thời phát hiện những sai sót (nếu có) của điều tra viên, từ đó có những đề xuất, kiến nghị đối với cơ quan điều tra, viện kiểm sát để bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng.
Như vậy, trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra thì tùy từng vụ án mà luật sư – người bào chữa linh động áp dụng các biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Tuy nhiên, để việc tham gia của luật sư – người bào chữa từ giai đoạn điều tra thực sự có hiệu quả thì không những bản thân luật sư – người bào chữa có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát cũng cần phải có nhận thức đúng đắn về sự tham gia của luật sư – người bào chữa trong vụ án hình sự từ đó tạo ra những điều kiện tốt nhất để luật sư – người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
PV