NHỚ VỀ BA MƯƠI NĂM TRƯỚC
08h:49, ngày 12/25/2015
Nghe đến đây, tôi như không tin vào tai mình, vì đối với tôi, anh không chỉ là một con người bình dị, đầy tình cảm yêu thương của một sĩ quan đối với chiến sĩ, mà còn là người chính thức giới thiệu tôi vào Đảng, bên cạnh nghị quyết của Ban chấp hành Đoàn. Ngày này cách đây đúng ba mươi năm, sau hơn một năm nhập ngũ, với cấp bậc hạ sỹ, tôi xúc động đứng tuyên thệ dưới lá cờ vinh quang của Đảng, lắng nghe từng lời nhận xét cảm động của anh trong hội trường được bày trí giản dị của Phòng động viên tuyển quân. Gia đình tôi có bốn anh em trai, lúc đó có ba người nằm trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh biên giới Cămpuchia, nhu cầu tuyển quân tăng cao, là anh cả trong gia đình, sau khi đăng ký và khám sức khỏe, tôi nhận lệnh nhập ngũ vào quân đội…
Những năm đầu của thập kỷ 80, chiến trường Cămpuchia nóng bỏng, hàng ngày, tin tức về thương vong do chiến sĩ tình nguyện Việt Nam vấp bom, mìn Pôn Pốt gài lại làm cho các vị chỉ huy của Quân khu VII và Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh ăn ngủ không yên. Nhu cầu tiếp quân đang ở mức cao nhất, có lúc các đợt tuyển quân trong năm của thành phố lên tới gần 10.000 binh sĩ… Các sĩ quan, chiến sĩ trong bộ phận tuyển quân và giải quyết quân nhân đào ngũ lúc nào cũng như ngồi trên đống lửa, vì với con số tuyển quân như vậy, có cả hàng ngàn trường hợp phải xem xét về điều kiện hoãn do bệnh tật, giải quyết các diện chính sách, xử lý đối với số quân nhân đào ngũ. Cả phòng lúc đó chỉ có mình tôi tốt nghiệp đại học pháp lý chính quy, nên tuy là hạ sĩ quan, nhưng khối lượng công việc mà tôi phải thực hiện rất lớn. Nếu không có sự tận tình, quan tâm hỗ trợ của anh, chắc chắn tôi không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Sau buổi gặp gỡ nói trên, đêm về tôi lại trằn trọc không ngủ được. Mỗi năm vào ngày này, anh em gặp nhau được vài tiếng, hỏi thăm nhau về cuộc sống và gia đình, rồi đường ai nấy đi, phận ai nấy giữ. Vì thế, ngay sáng hôm sau, tôi tranh thủ ghé nhà anh nằm trên đường Bạch Mã trong khu cư xá Bắc Hải. Căn nhà nhỏ của vợ chồng anh vẫn như xưa, nằm lọt thỏm giữa những ngôi biệt thự hoành tráng bên cạnh. Vợ anh năm nay đã 67 tuổi, đưa tôi vào phía sau, nơi anh đang nằm dưỡng bệnh. Chị bảo các cháu đi làm ăn xa, thi thoảng mới về thăm cha. Vẻ mặt đau đớn, anh cố gượng dậy nắm lấy tay tôi. Trời ạ, vẫn con người anh ngày xưa đây, khuôn mặt chất phác, hiền lành, bên trong là một tấm lòng nhân hậu, quả cảm. Vốn là một trong những chiến sĩ biệt động Sài Gòn- Gia Định, dưới quyền chỉ huy của Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Tăng (Tư Tăng), anh cùng lực lượng biệt động trấn giữ khu vực ngã tư Bảy Hiền, đón đoàn quân giải phóng Sài Gòn đúng vào ngày 30/4/1975.
Giọng run run, anh kể lại việc ông Nguyễn Hữu Trí (Tư Bốn), Phó Tư lệnh sốt ruột phân công anh đi đón tôi ở Trung đoàn Gia định về Bộ Tư lệnh ngay khi tôi vừa nhập ngũ, rồi sau này đi xác minh lý lịch của gia đình tôi như thế nào. Có những khi tôi bị đau dạ dày, nửa đêm anh là người đưa tôi vào Bệnh viện Quân y 175 điều trị. Tôi dường như thấy mọi người, xã hội, rồi ngay cả bản thân mình có lỗi với anh, thờ ơ với cuộc sống của những người như anh đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, thống nhất đất nước. Đó là chưa kể những cuộc bon chen, chạy đua với ảo tưởng, danh vọng, có mấy ai giật mình nhớ lại ngày xưa giản dị, tình cảm chân thành, tràn đầy biết bao.
Nắm lấy bàn tay nóng hầm hập lan tỏa từ trong cơ thể của anh, tôi thầm cầu mong anh vượt qua được cơn bạo bệnh. Khi bước ra khỏi nhà, chia tay với vợ chồng anh, tôi bịn rịn không dứt ra được. Trong đầu tôi cứ lởn vởn suy nghĩ, cuộc sống dường như cũng không công bằng chút nào, sao những người tốt thường hay gặp phải hoạn nạn, cơ cực như thế…
Bài đăng trên báo Lao Động Cuối Tuần số 52 ra ngày 25/12/2015
Chưa có bình luận