Hội thảo tổng kết, trao đổi kinh nghiệm Đoàn đi nghiên cứu, khảo sát tại Nhật Bản năm 2016

14h:34, ngày 01/16/2017

Sáng 12/01/2017, tại Hà Nội, Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) tổ chức “Hội thảo tổng kết, trao đổi kinh nghiệm Đoàn đi nghiên cứu, khảo sát tại Nhật Bản năm 2016”. Tới dự và chủ trì Hội thảo có LS. TS. Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch LĐLSVN; ông Tsukahara Masanori, Chuyên gia Dự án JICA Nhật Bản tại Việt Nam, các luật sư Ủy viên Ban Thường vụ LĐLSVN; đại diện một số tổ chức hành nghề luật sư cũng tham dự hội thảo.

Quang cảnh hội thảo

Qua chuyến công tác tại Nhật Bản, Đoàn công tác LĐLSVN đã tham gia, nghiên cứu, học tập được nhiều kinh nghiệm về tổ chức tự quản nội bộ và mô hình luật sư trực ban từ Liên đoàn Luật sư Nhật Bản (JFBA). Với kết quả đó, tại buổi hội thảo này, các luật sư đã có bài tham luận nhằm nêu bật được những thuận lợi, khó khăn về các vấn đề này.

Cơ chế tự quản nội bộ

Liên đoàn Luật sư Nhật Bản (JFBA) và các Đoàn Luật sư địa phương tại Nhật Bản hoạt động độc lập với chế độ tự quản rất cao. JFBA và các Đoàn Luật sư được độc lập, tự quản trong việc bầu nhân sự chủ chốt, tự quyết định về tổ chức, ban hành Điều lệ, Quy chế, quy tắc nội bộ, quyết định việc gia nhập để trở thành luật sư, xử lý vi phạm, kỷ luật luật sư, tự trang trải, tự chủ về tài chính... mà không có bất cứ sự can thiệp nào của Nhà nước hay từ các thiết chế chính trị.

Nhà nước Nhật Bàn đã trao quyền độc lập, tự quản cho luật sư và tuyệt đối tôn trọng, tạo điều kiện pháp lý cho luật sư tự quản lấy mình mà không có bất cứ sự can thiệp hay ý kiến nào về nhân sự, về tổ chức và về nội dung ban hành các quy định nội bộ trong luật sư. Nhà nước Nhật Bản chỉ ban hành pháp luật, tạo khung pháp lý cho luật sư hoạt động, đảm bảo quyền hành nghề của luật sư.

Trong hành nghề, quyền hành nghề của luật sư cũng tuyệt đối được tôn trọng từ phía các cơ quan điều tra, công tố, tòa án. Khi một viên chức nhà nước xâm phạm quyền hành nghề luật sư thì sẽ bị kiện ra tòa và người xâm phạm phải chịu chế tải về trách nhiệm đạo đức công vụ rất nặng.

Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh phát biểu tại Hội thảo

Thuận lợi, khó khăn trong mô hình luật sư trực ban tại Việt Nam

Theo Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, nhằm đẩy mạnh tiến trình cải cách tư pháp, đòi hỏi phải tham gia ngay từ đầu vào quá trình tố tụng của các luật sư với tư cách là người bào chữa, chủ thể của tranh tụng, nhằm nâng cao hiệu quả của cải cách tư pháp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Luật Tố tụng Hình sự 2015  có những quy định mới cụ thể hơn về người bào chữa và mở rộng hơn quyền của người bào chữa, điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự… Những quy định pháp luật mới về người bào chữa là một trong những tiền đề pháp lý quan trọng đề có thể đưa vào áp dụng thực hiện mô hình luật sư trực ban ở nước ta, một mô hình hiện thực hóa quyền của luật sư được tham gia tố tụng từ khi người bị tình nghi phạm tội bị bắt giữ và quyền của người bị tình nghi phạm tội được có người bào chữa ngay từ khi bị bắt giữ.

Pháp luật Việt Nam đã có chế định bào chữa chỉ định (bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng) cùng với sự ra đời cùa Bộ luật Tố tụng Hình sự 1989, luật sư Việt Nam đã đúc rút được những kinh nghiệm trong việc tham gia bào chữa chỉ định. Từ đó, tiếp nhận và thực hiện tốt chế độ luật sư trực ban nhằm tư vấn, giúp đỡ pháp lý, tham gia bào chữa ngay từ đầu cho những người bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố.

Ở Việt Nam, với gần 11.000 luật sư có trình độ nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp cao là điều kiện cần thiết để thực hiện có hiệu quả chế độ luật sư trực ban. Bên cạnh đó, theo Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 do Thủ tướng phê duyệt (Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2011) thì cả nước sẽ có khoảng 18-20.000 luật sư. Đội ngũ luật sư được đào tạo bồi dưỡng bài bản sẽ góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ luật sư.

Chế độ luật sư trực ban thực chất là cách thức tổ chức và vận hành để bảo đảm quyền bào chữa và có người bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Đây là quyền con người, là quyền hiến định, mọi cá nhân, tổ chức đều có nghĩa vụ tôn trọng. Trên thực tế, nhận thức về quyền bào chữa chưa được đầy đủ và đáng lo ngại nhất là điều này lại xảy ra đối với một bộ phận cán bộ trong cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là trong cơ quan điều tra. Điều đó, cho thấy vai trò của luật sư chưa được nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Đây chính là một trở ngại cho việc thực hiện chế độ luật sư trực ban ở Việt Nam.

Ngoài ra, việc hiểu biết về pháp luật của người dân còn hạn chế, nhiều người chưa biết về quyền được bào chữa, được nhờ luật sư, được gặp luật sư ngay từ khi bị bắt giữ dẫn đến luật sư không nắm bắt được thông tin về thân chủ của mình. Điều này gây khó khăn cho việc thực hiện mô hình luật sư trực ban.

 

Cần có các quy định cụ thể hơn về “quyền im lặng”, có “quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”... Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các luật sư thuộc các đoàn luật sư trong cả nước đăng ký, tham gia vào danh sách luật sư trực ban để mô hình luật sư trực ban sớm đi vào thực tế.

VP