Luật sư Việt Nam với TPP trong hội nhập quốc tế
15h:16, ngày 06/15/2016
Ngày 04/02/2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết giữa 12 nước thành viên gồm: Hoa Kỳ, New Zealand, Nhật Bản, Canada, Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, Peru, Singapore và Việt Nam. Hiệp định này sẽ tạo ra khu vực tự do thương mại lớn nhất thế giới với 790 triệu dân, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP thế giới và 33% thương mại toàn cầu. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương có mức độ cam kết mở cửa thị trường cao hơn cam kết WTO và các FTA đã ký trước đây. Đặc biệt TPP và FTA với Liên minh châu Âu là những hiệp định toàn cầu, cân bằng lợi ích với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công... nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng.
TPP là hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất khẩu, nhập khẩu và rào cản phi thuế quan, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh, lợi ích cho người lao động và người tiêu dùng.
TPP hình thành mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên, tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại trong một khối, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân. Khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển nền kinh tế số, xây dựng chính sách cạnh tranh và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động và bảo vệ môi trường. TPP còn có các quy định bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi, giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển. TPP cũng bao gồm các cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực và có sự linh hoạt về lộ trình thực thi, phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển để các bên có khả năng đáp ứng cam kết và tận dụng đầy đủ lợi ích của Hiệp định. Đồng thời quy định cơ chế giám sát thực thi và chế tài xử lý các vi phạm. TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước, thừa nhận yêu cầu phải tuân thủ đầy đủ pháp luật quốc gia, phù hợp với các cam kết quốc tế và không bao gồm các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Việt Nam tham gia TPP trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp và còn nhiều khó khăn nên cần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, nỗ lực vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội để vươn lên phát triển nhanh và bền vững, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén và tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Đây còn là sự khẳng định niềm tin và ý chí, khả năng và sức mạnh của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Quy mô và mức độ hội nhập thể hiện không chỉ qua các số liệu ngày càng tăng trong quan hệ thương mại đầu tư của Việt Nam với các nước mà còn qua sự đan xen trong hoạt động giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Trong hoạt động thương mại, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng, chiếm 42,3% kim ngạch xuất khẩu năm 2009 và 37% kim ngạch xuất khẩu năm 2010. Nhà đầu tư nước ngoài đã có mặt trong nhiều lĩnh vực, từ sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng đến các ngành dịch vụ quan trọng như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, viễn thông... Doanh nghiệp trong nước đang đẩy mạnh phát triển thị trường nước ngoài thông qua xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Từ một nước trước đây chỉ tiếp nhận đầu tư, đến nay một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài.

Giới luật sư Việt Nam sẵn sàng chuẩn bị trước cánh cửa TPP
Cùng với quá trình hội nhập, nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng về số lượng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng. Một mặt, nhu cầu tăng do có sự gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp trong các giao dịch của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Mặt khác, nhu cầu cũng đến từ nhiều doanh nghiệp trong nước do có sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp trong nước, sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức chung về vai trò của luật sư và sự cần thiết của dịch vụ pháp lý trong hoạt động kinh doanh. Ở cấp độ quốc gia, luật sư có thể đóng góp vào quá trình đàm phán các hiệp định, điều ước quốc tế, tham gia vào các vụ tranh tụng quốc tế với chủ thể là các cơ quan nhà nước, các hiệp hội. Ở cấp độ doanh nghiệp, nhu cầu về hoạt động của luật sư rất đa dạng, từ các dịch vụ tư vấn pháp lý cho giao dịch quan trọng phức tạp của doanh nghiệp, đến các hoạt động tranh tụng tại tòa án hoặc trọng tài quốc tế.
Chính sách và pháp luật về cải cách tư pháp và phát triển nghề luật sư trong thời gian qua đã tạo cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc và điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề luật sư: Từ Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012). Tác động quan trọng và dễ nhận thấy nhất đó là những chuyển biến của thị trường dịch vụ pháp lý, thể hiện qua sự phát triển về số lượng luật sư và tổ chức hành nghề, số lượng vụ việc có luật sư tham gia. Đây là hệ quả từ những quy định rõ ràng và theo hướng mở hơn của Luật Luật sư, về việc gia nhập đoàn luật sư, tập sự, hành nghề, đào tạo nghề luật sư và hoạt động tham gia tranh tụng. Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển luật sư đến năm 2020 và Đề án Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 - 2020, đặt ra những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể cho việc phát triển nghề luật sư nói chung và phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập.
Qua hơn 70 năm truyền thống nghề luật sư Việt Nam và những năm đổi mới, đội ngũ luật sư Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, quy mô cung cấp dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp cũng tăng cao, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, luật sư hành nghề dần đi vào hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, mua bán, tái cấu trúc doanh nghiệp, thị trường, tài chính, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh...
Trong giao dịch quốc tế, nhờ sự “cọ xát” với các đồng nghiệp nước ngoài, tính hội nhập trong hoạt động hành nghề luật sư cũng được thể hiện rõ nét. Trong khi một số tổ chức luật sư nước ngoài đang hành nghề “nội địa hóa” ở Việt Nam bằng việc đưa các luật sư Việt Nam vào một số vị trí chủ chốt, mở rộng thị trường ở Việt Nam thì một số tổ chức luật sư trong nước đã bắt đầu có xu hướng “quốc tế hóa” bằng cách phát triển khách hàng nước ngoài, phát triển thị trường ra ngoài nước và tuyển dụng luật sư nước ngoài.
Cạnh tranh luôn là thách thức trong hành nghề luật sư và trong hội nhập kinh tế quốc tế, đó là mối quan hệ bản chất giữa hoạt động kinh tế, môi trường pháp lý giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, áp lực cạnh tranh trở thành động lực để các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam vươn lên xây dựng thương hiệu, uy tín nghề nghiệp và vững vàng trong thách thức. Nếu lấy TPP làm nền tảng thì luật sư Việt Nam phải biết tiếp cận thị trường một cách toàn diện, nắm vững các quy tắc thương mại khu vực thể hiện trong 30 chương của Hiệp định về các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung, thương mại hàng hóa, dệt may, quy tắc xuất xứ, quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; phòng vệ thương mại; đầu tư; thương mại dịch vụ qua biên giới; dịch vụ tài chính; nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh; viễn thông; thương mại điện tử; mua sắm chính phủ; chính sách cạnh tranh; doanh nghiệp nhà nước; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo thuận lợi kinh doanh; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; gắn kết môi trường chính sách; minh bạch hóa và chống tham nhũng; các điều khoản về hành chính và thể chế; giải quyết tranh chấp và ngoại lệ.
Để hoạt động của nghề luật sư ở Việt Nam phát triển trong hội nhập quốc tế, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với luật sư và hành nghề luật sư theo Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Luật sư luôn tuân thủ hiến pháp, pháp luật, điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam và quy tắc đạo đức ứng xử trong hành nghề luật sư, tự rèn luyện mình, tu nghiệp đồng thời với tu dưỡng đạo đức, nâng cao kỹ năng hành nghề luật sư.
Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có chủ trương hoạch định chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hành nghề luật sư bên cạnh đó là sự quan tâm hỗ trợ hiệu quả về tài chính, nguồn nhân lực cho khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng luật sư vào các hoạt động giao dịch quốc tế năng động.
Liên đoàn Luật sư và các Đoàn luật sư cần rà soát lại đội ngũ luật sư, đánh giá chất lượng hành nghề luật sư, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghề luật sư để từ đó tổng kết, rút kinh nghiệm, đề ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên sâu, đổi mới cách tiếp cận thị trường pháp lý để mọi người, mọi tổ chức trong nước và nước ngoài đều có thể sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư Việt Nam mà không có rào cản, cách biệt nào khác.
Lấy phát triển đội ngũ luật sư hội nhập quốc tế làm trung tâm trong xây dựng nghề luật sư ở Việt Nam trong bối cảnh nước ta sẵn sàng vươn ra làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Nhanh chóng đưa hoạt động pháp lý của luật sư Việt Nam - một nhu cầu thường xuyên trong đời sống chính trị, kinh tế, ngoại giao trở thành địa chỉ tin cậy của cộng đồng xã hội và người nước ngoài, góp phần vào tiến trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
ThS. LS Lê Minh Đức (nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam)