Vận dụng thế nào một số quy định mới trong Bộ luật Dân sự?

09h:49, ngày 04/14/2016

Quốc hội vừa thông qua Bộ luật Dân sự mới, mở rộng phạm vi điều chỉnh,phản ánh tinh thần Hiến pháp năm 2013. Theo đó, ngoài quy định tại các điều khoản luật, cơ quan xét xử được quyền linh hoạt giải quyết vụ án dân sự theo lẽ công bằng, theo tập quán và theo án lệ. Việc mở rộng quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp ở Bộ luật Dân sự mới thể hiện sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm của cơ quan lập pháp trước yêu cầu thực hiện công lý, tránh tình trạng “thả nổi” giải quyết tranh chấp của người dân do thiếu quy định pháp luật, nâng cao trọng trách an dân của nhà nước pháp quyền. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khẳng định: pháp luật thiếu, người dân không có lỗi mà lỗi thuộc về Nhà nước, khi người dân khởi kiện thì tòa án phải tiếp nhận thụ lý giải quyết. Điều tréo ngoe ở chỗ là không có luật quy định thì căn cứ vào đâu để giải quyết? Trong khi đó luật tố tụng lại đòi hỏi: Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật!

Đã nói cơ quan xét xử giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng, theo án lệ và theo tập quán thì tòa án không được từ chối thụ lý yêu cầu khởi kiện của người dân, không thể thoái thác trách nhiệm do tranh chấp không có luật quy định. Cái khó là làm sao xác định thế nào là lẽ công bằng? Còn án lệ thì đang “mò mẫm” trên đường hình thành; tập quán thì mỗi nơi mỗi khác, biết dựa vào đâu để tạo thành công lý?

Chuẩn mực của lẽ công bằng là khái niệm mà mọi người hướng tới. Lâu nay chúng ta đều thừa nhận lẽ công bằng nằm trong các điều luật. Bây giờ thì ngoài luật, lẽ công bằng có thể “an tọa” ở chỗ khác? Sự phán xét theo lẽ công bằng tùy thuộc vào khả năng nhận thức, năng lực chủ quan, lương tâm đức độ của người xét xử! Nhà bác học người Pháp Pascal rất có lý khi cho rằng: “Chân lý bên này dãy Pyrénées thì bên kia là sai lầm”. Phải chăng lẽ công bằng là khái niệm tương đối tìm về công lý phù hợp với quyền lợi của số đông người đương thời ở nơi đang xảy ra tranh chấp? Làm thế nào để người cầm cân vững tin vào niềm tin nội tâm khi định đoạt số phận, quyền lợi đối với người trong cuộc?

Trường hợp lẽ công bằng, tập quán và án lệ phù hợp với nhau, cùng theo một hướng thì xuôi chèo mát mái; trường hợp ba khái niệm mới đưa vào Bộ luật Dân sự “chọi nhau” thì thẩm phán phải tính làm sao?

Trong quá trình hành nghề luật sư tham gia một số vụ án, thỉnh thoảng tôi dẫn chứng một số vụ án được nhận định tương tự xử có lợi cho đương sự này thì vụ án lại được tòa giải quyết theo hướng khác với lập luận mỗi vụ án có tính đặc thù của nó và ở Việt Nam không thể giải quyết án theo án lệ!

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa - đại biểu Quốc hội nhận định: chế định lẽ công bằng, từ khi còn trong dự thảo cho đến khi chuẩn bị thông qua được các đại biểu Quốc hội thảo luận sôi nổi. Các đại biểu băn khoăn, bối rối vì tòa vốn phải xử theo luật, nay không có luật, xử theo lẽ công bằng thì dựa vào đâu - nhận thức hay lương tâm của thẩm phán về sự công bằng hay những quy tắc ứng xử “công bằng” thuộc phạm trù đạo đức, luân lý, thậm chí tôn giáo? Và liệu sẽ có sự tùy tiện của thẩm phán trong việc cầm cân nẩy mực? Ngoài lẽ công bằng, Hội đồng xét xử áp dụng tập quán nhưng không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Nếu không có tập quán, thẩm phán sẽ áp dụng “tương tự pháp luật”. Nếu không thể áp dụng tập quán và tương tự pháp luật, thẩm phán sẽ áp dụng “nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng” và lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận…

Rất tiếc, căn cứ vào đâu để khẳng định là “được mọi người trong xã hội thừa nhận”. Thực tiễn đời sống diễn ra phức tạp, khôn lường, dân gian có câu “chín người mười ý”! Về “tương tự pháp luật” được hiểu “pháp luật gần giống”. Như thế, vận dụng pháp luật tương tự tức quy định na ná, tương tự thể hiện trong các điều khoản luật. Thẩm phán là người được đào tạo căn bản qua trường lớp, khi xét xử bao giờ cũng tuân thủ nguyên tắc trọng pháp: về mặt lý luận bao giờ hội đồng xét xử cũng tuân theo pháp luật. Nay, ngoài luật, thẩm phán còn phải phán quyết theo án lệ, lẽ công bằng, tập quán và pháp luật tương tự nữa!

Cần giảm thiểu những bản án đã có hiệu lực pháp luật hàng chục năm, những người tiến hành tố tụng từng được lãnh đạo cơ quan tố tụng biểu dương thành tích hoạt động, về sau mới phát hiện có sai lầm nghiêm trọng, án bị hủy, sửa. Nên sưu tập những “án tệ”, phân tích rút kinh nghiệm những lỗi lầm trong quá trình thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ hời hợt, lệch lạc do nhận thức chủ quan của người thực hiện hoạt động tố tụng dẫn đến nhầm lẫn, sai sót “chết người” khi đưa ra quyết định có sai sót tại án phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Bên cạnh sự hình thành án lệ,phải rút kinh nghiệm sâu sắc đối với các “án tệ”, tránh vết xe đổ đáng tiếc!

Để tiến tới nền tư pháp đúng đắn, khách quan, minh bạch, hợp lòng người, hoạt động tư pháp của nhà nước pháp quyền cần sớm đào tạo những thẩm phán tài đức “phụng công thủ pháp” giàu bản lĩnh, đặt công lý lên trên hết. Ngoài ra, có chính sách đãi ngộ một cách xứng đáng để họ toàn tâm, toàn ý phục vụ công lý!

Luật sư Trần Công Ly Tao (nguồn: Tạp chí luật sư Việt Nam)